Củ Chi là địa bàn chiến lược, là căn cứ bàn đạp quan trọng cho các lực lượng tiến công vào Sài Gòn. Dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, ác liệt, quân và dân nơi đây vẫn kiên cường bám đất, bám dân, bám địa đạo, càng đánh càng mạnh, lập nên nhiều chiến công vang dội.
Trung đội Nữ du kích Củ Chi ra đời năm 1965 và kết thúc chiến đấu năm 1975, cũng là những năm tháng chiến tranh gian khổ, ác liệt nhất, nhưng các cô vẫn kiên trì bám trụ trên vành đai diệt Mỹ. Từ 3 thành viên ban đầu, lực lượng dần phát triển lên 21 rồi 60 đội viên, kiên cường bám trụ địa bàn, xây dựng cơ sở cách mạng, vận động nhân dân nuôi giấu cán bộ với hàng trăm hầm bí mật, làm nhiệm vụ truyền tin, dẫn đường, tiếp tế, góp phần hình thành “mặt trận không tiếng súng” đầy quả cảm. Với những đóng góp to lớn, Đội nữ du kích Củ Chi đã được trao tặng nhiều huân chương chiến công, hàng chục danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng” và vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau ngày giải phóng, khi trở về với cuộc sống đời thường, các nữ du kích thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ, “tay cuốc tay cày” xây dựng quê hương, hàn gắn những vết thương chiến tranh. Phóng viên HTV phỏng vấn bà Đỗ Thị Cưỡng, Phó Ban Liên lạc Nữ du kích Củ Chi.
* Thưa bà, xin bà chia sẻ về không khí của những ngày tháng Tư lịch sử cách đây 51 năm?
Bà Đỗ Thị Cưỡng: Lúc đó tôi mới là Bí thư chi đoàn du kích mật của xã Trung An. Để chuẩn bị giải phóng thì huyện Củ Chi rút hết toàn bộ du kích xã để về thành lập trung đoàn thép xuống đường, lúc đó mới đưa tôi lên làm xã đội phó, không có xã đội trưởng, để phụ trách phụ nữ bên trong ấp chiến lược.
Lúc đó tôi được triển khai phải cố gắng vận động dân trong ấp chiến lược là dù cho giặc kêu di tản cỡ nào cũng phải bám trụ, không đi ra khỏi xã của mình. Đó là thứ nhất. Thứ hai là chuẩn bị lương thực, thực phẩm để dự trữ. Mình cũng tính là tiến công giải phóng nhưng mà mình cũng không có đoán được mất bao lâu, nên bà con chuẩn bị lương thực, thực phẩm để cho trận chiến có thể kéo dài. Thứ ba là chuẩn bị may cờ. Ai mà mình tin tưởng thì mình vận động họ, có tiền rồi đi mua vải về, canh gác nhau để mà may.
Và sau khi mà mình chuẩn bị đào hầm, giấu lúa, vì sợ bom pháo rớt xuống làm cháy lúa, không có ăn, làm hầm trú ẩn phải có trổ miệng ra ngoài để cháy nhà thì còn có đường mình ra, rồi cất giấu lương thực, thực phẩm… Chuẩn bị trong tháng Tư như thế. Sau khi các anh trong lực lượng bộ đội xuống đường thì các cô trong lực lượng du kích mật cũng đứng dậy vận động phòng vệ dân sự, bà con nhân dân đứng lên chiếm lĩnh cắm cờ.
Tôi lúc đó mới 22, 23 tuổi. Sau khi giải phóng 30/4 thì tôi được cấp ủy giao cho triệu tập khoảng 12 chiếc xe lam, chở dân đi xuống dự lễ ra mắt chính quyền của Thượng tướng Trần Văn Trà ở công viên 30/4 bây giờ. Khi đi trên đường tôi ngạc nhiên thấy đồ lính ngụy bỏ lại dài theo đường quốc lộ 22 bây giờ. Lúc đó tôi tự hào nghĩ sao Cách mạng mình hay quá, vì mình lúc đó còn trẻ, mình chỉ hoạt động một số nhiệm vụ của bên trong, nhỏ hẹp, đâu có tầm nhìn xa, nhưng giờ thấy Thượng tướng Trần Văn Trà phát loa rồi thành lập ban quân quản, diễu binh … tôi thấy sao mà cách mạng mình hay quá!
Ra mắt chính quyền xong thì tôi dẫn đội du kích nữ đi truy lùng, kêu gọi tàn quân ra để trình diện với chính quyền, rồi cùng với cấp ủy Đảng phân loại ra, ai mà sĩ quan thì sẽ cho đi học tập, cải tạo, còn mấy người mà không ác ôn thì ở xã mở lớp học năm ba ngày, nửa tháng thì cho hồi hương về nhà.
Sau ngày 15/5 ra mắt chính quyền thì Đảng ủy phân công tôi phụ trách xã đoàn, vận động đoàn viên, thanh niên, bộ đội xuống để đi xây đường, bắc cầu cho dân về khai hoang phục hóa.
* Cảm xúc của bà trong ngày vui của dân tộc như thế nào?
Bà Đỗ Thị Cưỡng: Hồi trẻ mình mất tự do, mình bị địch kềm kẹp rồi bị bắt tù đày, mất tự do. Sau khi giải phóng thì chúng tôi nghĩ như mình là chim xổ lồng, được tung cánh rồi, mừng lắm. Trước 30/4 lúc đó không có điện, không có quạt, xuống hầm mồ hôi túa ra như nhớt cá. Chong đèn dầu thì hít vào đen cả mũi, khổ cực lắm. Vậy nên khi giải phóng rồi, thanh niên chúng tôi hát sáng đêm luôn cho nó thoải mái. Xưa mình phải giấu diếm không dám hát. Hồi đó chúng tôi nghe mấy bài hát là muốn đi theo cách mạng liền, nó sôi nổi, thúc giục mình phải đi theo cách mạng, giải phóng dân tộc!
* Sau hơn 50 năm đất nước thống nhất, bà cảm nhận ra sao về sự đổi thay của quê hương?
Bà Đỗ Thị Cưỡng: Thời đó chúng tôi đi học Nghị quyết thì được nghe Đảng nói là sau này công nghiệp hóa, điện khí hóa, không còn phân biệt giữa nông thôn và thành thị. Hiện nay tôi thấy quá tuyệt vời. Bây giờ những điều đó đã thành hiện thực rồi! Sau khi nước mình đổi mới, ngoại giao của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng khéo léo như hình ảnh “cây tre”, các nước trên thế giới đều tôn trọng đất nước chúng ta, tôi thấy rất mừng.
* Bà có lời gửi gắm gì đến thế hệ trẻ hôm nay?
Bà Đỗ Thị Cưỡng: Trong chiến tranh rất cực khổ. Muốn hòa bình không phải dễ, biết bao liệt sĩ đã hy sinh mới giành được độc lập, tự do. Hiện nay, các bạn trẻ có điều kiện hơn chúng tôi hồi đó nhiều lắm. Vì hồi đó mình không được học, mình ước mơ được đi học để có kiến thức, còn hiện giờ các em có điều kiện thì phải đem sự nhiệt tình để làm sao góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. Tôi cũng có cơ hội đi tham quan các nước nhưng tôi thấy chưa có nước nào mà cứ mỗi xã đều có một đài liệt sĩ để tưởng niệm các anh hùng như đất nước mình.
* Xin cám ơn bà!


